Kinh tế Việt Nam ảnh hưởng thế nào khi đồng NDT mất giá mạnh?

(VnMedia) - Theo Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, việc mất giá mạnh của đồng NDT sẽ tác động lớn đến kinh tế Việt Nam, do thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc đang có xu hướng tăng, từ mức 23,7 tỷ USD trong năm 2013 lên mức 28 tỷ USD trong năm 2016.

Việt Nam cần lưu ý biến động của đồng NDT

Đưa ra đánh giá về diễn biến tỷ giá trong quý 1/2017 tại Báo cáo về kinh tế quý 1 và dự báo cả năm 2017, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cho biết, tỷ giá VND/USD tại các ngân hàng thương mại (NHTM) có xu hướng giảm trong tháng đầu tiên của năm, nhưng sau đó có nhiều biến động khi liên tiếp tăng cao từ nửa đầu tháng 2 cho tới nay, và luôn tiệm cận sát với mức trần NHNN công bố (tính đến 20/03/2017, tỷ giá NHTM quanh mức 22.820 đồng/USD, tăng khoảng 0,13% so với đầu năm).

Trong khi đó, tỷ giá thị trường tự do ở nửa đầu tháng 2 cũng có mức tăng đột biến, có những thời điểm đã lên trên mức 23.000 VND/USD nhưng ngay sau đó đã hạ nhiệt và hiện bám khá sát với tỷ giá của các NHTM.

Việc mất giá mạnh của đồng NDT sẽ tác động lớn đến kinh tế Việt Nam do thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc đang có xu hướng tăng. Ảnh minh họa
Việc mất giá mạnh của đồng NDT sẽ tác động lớn đến kinh tế Việt Nam do thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc đang có xu hướng tăng. Ảnh minh họa

Cũng theo Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, trong năm 2017, việc Cục dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất chưa gây áp lực đối với tỷ giá, do hiện nay chênh lệch giữa lãi suất huy động VND và USD vẫn nghiêng về việc nắm giữ VND. Tuy nhiên, cung ngoại tệ có thể kém thuận lợi hơn năm 2016.

Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cho rằng, về dài hạn, cần lưu ý biến  động của đồng NDT. Việc mất giá mạnh của đồng NDT sẽ tác động lớn đến kinh tế Việt Nam do thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc đang có xu hướng tăng, từ mức 23,7 tỷ USD trong năm 2013 lên mức 28 tỷ USD trong năm 2016. “Nếu so với GDP, thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc là 14%, cao hơn nhiều mức 2% thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc”, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cho hay.

Mặc bằng lãi suất huy động có xu hướng tăng nhẹ

Liên quan đến thị trường tiền tệ, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cũng cho biết, tổng nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế đến 31/3/2017, tăng 6,2% so với cuối năm 2016. Khu vực ngân hàng tiếp tục là kênh cung ứng vốn chủ yếu, chiếm 59,8% tổng cung ứng vốn cho nền kinh tế từ thị trường tài chính. Vốn cung ứng từ thị trường chứng khoán cho nền kinh tế tăng 10,6% so với cuối năm 2016.

Về thanh khoản hệ thống, trong quý 1/2017, thanh khoản của hệ thống có dấu hiệu căng thẳng nhẹ tại một vài thời điểm, chủ yếu do thiếu thanh khoản cục bộ tại một số NHTM nhỏ. Song, NHNN đã kịp thời điều tiết thanh khoản của hệ thống qua OMO.

Cụ thể, NHNN đã bơm ròng mạnh trong tháng 1, hút về lượng tiền lớn trong tháng 2 và tiếp tục hỗ trợ hệ thống trong tháng 3. Tính lũy kế từ đầu năm đến 28/3, NHNN đã bơm ròng khoảng 12 nghìn tỷ đồng.

Riêng về vấn đề lãi suất, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cũng cho biết, mặt bằng lãi suất huy động trong quý 1/2017 có xu hướng tăng nhẹ kể từ tháng 3. Theo đó, tại các kỳ hạn ngắn, lãi suất huy động được một số ngân hàng tăng thêm từ 0,1%-0,5%.

Đáng chú ý, các NHTM tăng phát hành giấy tờ có giá (tăng 0,7% so với mức âm 7,7% cùng kỳ năm ngoái) khiến lãi suất ở các kỳ hạn dài (5 năm,7 năm) lên mức cao 9,2%. Trong khi đó có một số ngân hàng giảm nhẹ lãi suất huy động.

Hiện tượng trên chủ yếu mang tính cục bộ và tính mùa vụ (tương tự trong quý 1/2016). Cụ thể, thanh khoản của toàn hệ thống mặc dù kém dồi dào hơn do tăng trưởng tín dụng nhanh hơn huy động, song thanh khoản của hệ thống vẫn ở mức an toàn. Ước tính đến hết quý 1/2017, tín dụng tăng khoảng 3,2% (cùng kỳ 2016 là 3,04%), mức tăng cao nhất trong 5 năm trở lại đây và cao hơn tốc độ tăng của huy động vốn (khoảng 3%).

Trong khi đó, thanh khoản hệ thống luôn có sự phân hóa giữa các nhóm ngân hàng TMCP nhỏ và nhóm ngân hàng TMCP lớn nên diễn ra hiện tượng một số ngân hàng cạnh tranh thu hút vốn bằng nâng lãi suất huy động. Chênh lệch lãi suất huy động giữa hai nhóm ngân hàng này hiện khoảng 0,5%.

Theo Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, động thái tăng lãi suất trên chủ yếu do các ngân hàng nhỏ chủ động cơ cấu lại nguồn vốn chuẩn bị nguồn đầu năm và cơ cấu lại nguồn vốn trung và dài hạn phù hợp với qui định của Thông tư 06.

Tính đến cuối tháng 3, tín dụng trung và dài hạn chiếm 55,2% tổng tín dụng và tăng khoảng 2,75%. Thống kê một số ngân hàng tăng lãi suất trong quý 1/2017 cho thấy, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn bình quân khoảng 45,35% cao hơn mức trần quy định 40% sẽ được áp dụng vào năm 2018.

Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cho rằng, động thái này cũng xuất phát từ kỳ vọng về lạm phát và tỷ giá gia tăng khi Fed dự kiến tăng lãi suất ít nhất 3 lần trong năm, và giá hàng hóa cơ bản dự báo tăng trở lại, các ngân hàng nhỏ chủ động huy động nguồn trung và dài hạn giá rẻ để chuẩn bị cho kế hoạch tăng trưởng cho cả năm 2017.

Yến Nhi

Trích dẫn nguồn báo vnmedia.vn